THE BEST WAY TO PREDICT THE FUTURE IS TO MAKE IT
Diễn tiến tự nhiên của kcnq2 và con đường đưa điều trị trúng đích đến gần hơn
Năm 2024, một phụ huynh nhắn cho mình:
“Bác ơi, khi nào tiện bác xem lại bé giúp em với ạ. Bé từ khi dùng thuốc mới em thấy bé quấy khóc, trân người miết. Tối bé quấy khóc xuyên đêm. Từ hôm về giờ cũng gần tuần rồi, ngày nào bé cũng vậy, mọi người trong nhà áp lực quá bác.”
Ở thời điểm đó, mình trả lời:
“Bác sĩ mới đọc lại thông tin về tác dụng phụ của thuốc CBZ thì không thấy đề cập đến quấy khóc/trân người. Thuốc CBZ là một trong những thuốc được khuyến cáo dùng theo cơ chế điều trị đích của đột biến KCNQ2.”
Đó là những gì mình biết vào năm 2024.
Khi đó, mình biết KCNQ2 là một gen liên quan đến động kinh khởi phát rất sớm. Mình biết carbamazepine là một trong những thuốc có thể phù hợp về mặt cơ chế sinh học phân tử trong một số trường hợp KCNQ2. Mình cũng biết rằng nếu điều trị đúng cơ chế, cơn động kinh có thể cải thiện rõ.
Nhưng lúc đó, mình chưa hiểu đủ về diễn tiến tự nhiên của bệnh.
Cho đến năm 2026, khi mình ngồi tổng kết lại diễn tiến của các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu sau 2 năm.
Mình bắt đầu nhận ra một điều quan trọng: với một số trẻ KCNQ2, hết cơn động kinh chưa có nghĩa là hết bệnh.
Có những trẻ đã kiểm soát được cơn động kinh. Có những trẻ đáp ứng tốt với thuốc theo đúng cơ chế sinh học phân tử. Nhưng sau đó, trẻ vẫn còn các vấn đề về phát triển, vận động, trương lực cơ, những cơn gồng người, khó chịu, khó ngủ, hoặc những bất thường vận động mà nếu chỉ nhìn bằng lăng kính “tác dụng phụ của thuốc” thì mình có thể bỏ sót.
Năm 2026, khi đọc kỹ hơn các nghiên cứu về KCNQ2, mình mới thấy điều này đã được mô tả trong y văn.
Trong bài "KCNQ2-DEE: developmental or epileptic encephalopathy?”, các tác giả khảo sát 39 trẻ có biến thể KCNQ2. Tuổi khởi phát co giật trung vị là 1 ngày tuổi, nghĩa là nhiều trẻ bắt đầu co giật ngay từ ngày đầu sau sinh.
Điểm quan trọng là: dù cơn động kinh ở nhiều trẻ có thể được kiểm soát, các vấn đề phát triển và chức năng vẫn còn nặng. Trong nhóm 39 trẻ này, tác giả ghi nhận suy giảm nặng về vận động ở 62%, sử dụng tay ở 31%, ăn uống ở 59%, và giao tiếp ở 77%. Có đến 72% trẻ bị suy giảm từ hai lĩnh vực chức năng trở lên.
Nói cách khác, KCNQ2 không chỉ gây co giật.
KCNQ2 có thể là một bệnh ảnh hưởng đến cách não phát triển và cách đứa trẻ lớn lên theo thời gian.
Đó là khác biệt giữa việc chỉ nhìn bệnh qua “cơn động kinh” và nhìn bệnh qua “diễn tiến tự nhiên”.
Nếu chỉ nhìn qua cơn động kinh, mình sẽ hỏi: bé còn co giật không, điện não có tốt hơn không, thuốc có đúng không?
Nhưng nếu nhìn qua diễn tiến tự nhiên, mình phải hỏi thêm: bé ngủ thế nào, bú ăn ra sao, có gồng người không, vận động có tiến bộ không, tay có sử dụng tốt không, bé có giao tiếp không, gia đình đang chịu gánh nặng chăm sóc ở mức nào?
Đây là điều mình học được sau khi đi cùng các bé lâu hơn.
Điều trị đúng cơ chế là rất quan trọng. Nhưng trong các bệnh não động kinh và phát triển do gen, điều trị cơn chỉ là một phần của hành trình. Phần còn lại là theo dõi phát triển, phục hồi chức năng, hỗ trợ ăn ngủ, hỗ trợ gia đình, và hiểu rằng có những biểu hiện thuộc về bản thân diễn tiến của bệnh chứ không đơn giản chỉ là tác dụng phụ của thuốc.
Y học thay đổi không chỉ vì có thuốc mới.
Y học thay đổi khi khoa học hiểu bệnh sâu hơn theo thời gian.
Năm 2024, mình biết KCNQ2 là một gen gây động kinh và có thể có điều trị theo cơ chế.
Năm 2026, mình hiểu thêm rằng KCNQ2 còn có diễn tiến tự nhiên riêng: dù cơn động kinh được kiểm soát, trẻ vẫn có thể còn rối loạn phát triển và rối loạn vận động cần được theo dõi lâu dài.
Việc biết được diễn tiến tự nhiên của một bệnh không chỉ giúp bác sĩ tư vấn tốt hơn cho gia đình. Nó còn giúp các nhà khoa học biết cần đo kết quả nào khi phát triển một loại thuốc mới.
Với một bệnh như KCNQ2-DEE, nếu chỉ đo số cơn động kinh thì chưa đủ. Vì nhiều trẻ có thể đã kiểm soát được cơn, nhưng vẫn còn khó khăn về vận động, ăn uống, sử dụng tay và giao tiếp. Do đó, khi nghiên cứu thuốc mới, câu hỏi không chỉ là “thuốc có làm giảm cơn không?”, mà còn là “thuốc có giúp trẻ vận động tốt hơn, ăn tốt hơn, giao tiếp tốt hơn, và giảm gánh nặng chăm sóc cho gia đình không?”.
Tuy nhiên, không phải bệnh hiếm nào cũng đã có dữ liệu về diễn tiến tự nhiên.
Thường chỉ một số gen “phổ biến hơn” trong nhóm bệnh hiếm, như KCNQ2, SCN1A, STXBP1…, mới bắt đầu có các nghiên cứu natural history. Một số gen hiếm hơn sẽ còn thiếu dữ liệu. Ví dụ như CACNA1E, một gen liên quan đến bệnh não động kinh và phát triển, rối loạn vận động, và bất thường phát triển thần kinh.
Mình để ở đây nghiên cứu về diễn tiến tự nhiên của CACNA1E để các phụ huynh có con mang đột biến CACNA1E có thể tham khảo và cân nhắc tham gia:
[https://www.cacna1e.org/research/decade/](https://www.cacna1e.org/research/decade/)
Phụ huynh có thể dùng Google Translate để đọc tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu.
Tham gia nghiên cứu không phải vì có lợi ngay lập tức cho một em bé cụ thể. Nhưng đó là cách gia đình góp một mảnh dữ liệu quan trọng để khoa học hiểu bệnh rõ hơn. Khi khoa học hiểu bệnh rõ hơn, chúng ta mới biết cần đo điều gì, cần điều trị điều gì, và làm sao đưa điều trị trúng đích đến gần hơn.
"The best way to predict the future is to make it."
Tài liệu tham khảo
Berg, A.T., Mahida, S. and Poduri, A. (2021), KCNQ2-DEE: developmental or epileptic encephalopathy?. Ann. Clin. Transl. Neurol., 8: 666-676. https://doi.org/10.1002/acn3.51316